Phát biểu cảm nghĩ, cảm nhận về "Chuyện người con gái nam xương" – BÀI VIẾT SỐ 1 LỚP 10 ĐỀ 2

Số phận và vẻ đẹp của người phụ nữ chưa bao giờ là một đề tài cũ trong kho tàng văn học Việt Nam. Từ những câu ca dao “Thân em như tấm lụa đào/ Phất phơ ngoài chợ biết vào tay ai” đến một ánh thiên cổ kì bút như “Truyện Kiều”, tất cả đều nhằm phản ánh được phần nào thân phận của họ. Nhưng có lẽ, sẽ thật thiếu sót nếu ta bỏ qua Nguyễn Dữ với tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”, bởi đó là bức tranh hoàn hảo nhất, không chỉ là về toàn cảnh xã hội phong kiến lúc bấy giờ, mà còn là chân dung người phụ nữ trong xã hội xưa. Để viết được bài văn nêu cảm nhận về tác phẩm, chúng ta phải đi theo bố cục nhất định, giới thiệu chung về tác giả tác phẩm, tóm tắt cốt truyện và cảm nhận về giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo của tác phẩm. Chúng ta cần chú ý đến những câu văn thể hiện được những suy nghĩ riêng của chính chúng ta về tác phẩm ấy. Chúc các bạn làm bài thành công! 

BÀI VĂN MẪU SỐ 1 BÀI VIẾT SỐ 1 LỚP 10 ĐỀ 2 NÊU CẢM NGHĨ SÂU SẮC NHẤT VỀ CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG

Mỗi một câu chuyện viết ra đều mang một ý nghĩa tự thân của nó, có tác dụng cảm hoá cuộc đời và con người. Nếu một tác phẩm văn học không mang được những ý nghĩa sâu xa như vậy, nó sẽ vẫn nằm trong sự băng hoại của thời gian. Và “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ đã vượt qua được quy luật của thời gian và không gian để đến với chúng ta ngày hôm nay.
“Chuyện người con gái Nam Xương” nằm trong tập “Truyền kì mạn lục”, một trong những câu chuyện lạ lưu truyền trong dân gian được ghi chép lại. Lạ nhưng câu chuyện ấy không viển vông đến xa rời thực tế, mà nó như một tấm gương soi chiếu xã hội bấy giờ, là khúc ca cho tấm lòng nhân đạo của tác giả Nguyễn Dữ. Bởi những giá trị ấy mà đã hàng ngàn năm trôi qua, vẫn còn một tác phẩm đồng hành với chúng ta ngày hôm nay.

Truyện kể về người con gái vùng Nam Xương, tính đã dịu hiền nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Nàng được gả cho Trương Sinh, một chàng trai giàu có nhưng ít học, tính tình lại cục cằn hay ghen. Và chiến tranh nổ ra, Trương Sinh bị bắt đi lính, để mẹ già vợ trẻ ở nhà ngày đêm mong nhớ. Trương Sinh đi để lại cho Vũ Nương một người con trai, vì thương nhớ chồng nên nàng chỉ chiếc bóng trên tường và nói với con đó là cha. Ba năm sau, Trương Sinh trở về, nghi ngờ vợ mình thất tiết và đuổi đánh vợ, khiến nàng nhảy xuống sông mà tự vẫn. Một thời gian sau, Trương Sinh phát hiện ra sự thật, muốn vợ quay trở về nhưng mọi chuyện đã quá muộn. Cả câu chuyện như một vở kịch đau thương về số phận của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, tủi nhục, đau khổ đến nhường nào!

“Chuyện người con gái Nam Xương” còn tồn tại đến ngày hôm nay có lẽ là nhờ vào giá trị hiện thực sâu sắc của nó. Đó là bức tranh về hiện thực xã hội phong kiến chứa đầy những uất ức bất công, đặc biệt là với người phụ nữ. Vũ Nương dù mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp nhưng cũng không được lựa chọn hạnh phúc cho cuộc đời mình. Nàng vì trăm lạng bạc của mẹ Trương Sinh mà về làm dâu làm vợ của người, không ai biết nàng có hạnh phúc hay không. Rồi khi bị chồng nghi oan, nàng cũng không có quyền nói lên nỗi lòng của mình. Dù bị đánh đập, bị đuổi đi mà không được nói một lời giải thích. Chính chế độ nam quyền khi ấy là nguyên nhân dẫn đến cuộc đời bi kịch của Vũ Nương.

Xem thêm:  Viết bài hội thảo với chủ đề: Hãy vì môi trường xanh, sạch, đẹp - BÀI VIẾT SỐ 7 LỚP 10 ĐỀ 3

Trong tác phẩm, ta còn nhận ra một hiện thực tàn khốc hơn nữa, chính là chiến tranh phong kiến phi nghĩa. Cuộc chiến ấy khiến mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha. Dù cho một người giàu có như Trương Sinh, cũng không tránh khỏi vòng vây đao kiếm. Tất cả đều là để phục vụ cho nhu cầu của những thế lực phong kiến tranh giành quyền lực mà đổ lên đầu con đỏ dân đen. Nếu như không có chiến tranh phong kiến, cũng không có ba năm xa cách đằng đẵng giữa Vũ Nương và chồng, cũng không có sự hiểu lầm đáng tiếc ấy. Vũ Nương phải chết, cũng một phần vì chiến tranh mà ra. Có thể nói, tác phẩm đã phản ánh chân thực được những hiện thực còn nhức nhối trong xã hội bấy giờ, để sau này người đời còn nhìn vào và hiểu rằng, đã có một thời lầm than như thế.

Nhưng một tác phẩm văn học sẽ không thể sống nếu nó chỉ là sự sao chép lại hiện thực một cách giản đơn. Trong hiện thực, ta còn phải thấy được cả tấm lòng của tác giả gửi gắm, hay chính là tiếng nói nhân đạo của Nguyễn Dữ trong tác phẩm của mình. Tiếng nói nhân đạo ấy trước hết thể hiện ở sự ca ngợi, trân trọng vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Vũ Nương được miêu tả là một cô gái, đã có tư dung tốt đẹp lại dịu hiền nết na. Nguyễn Dữ nhìn ra được những phẩm chất cao quý nhất trong tâm hồn người con gái ấy. Chính vẻ ngoài xinh đẹp và tính tình của nàng đã chiếm được trái tim chàng Trương Sinh, để chàng phải bắt mẹ hỏi cưới cho bằng được. Kể từ đó, Vũ Nương nổi bật lên là một người con hiếu thảo. Chồng đi lính, nàng hết lòng phụng sự, chăm lo cho mẹ chồng. Khi bà ốm, nàng tất tả lo toan thuốc thang, khi bà mất, nàng lo toàn ma chay cho thật chu đáo. Dẫu chỉ là mẹ chồng, nàng vẫn toàn tâm chăm sóc như bố mẹ. Đó là một tấm lòng thơm thảo, luôn dành sự biết ơn cho đấng sinh thành. Phẩm chất ấy thật đáng quý biết nhường nào.
Khi đã làm mẹ, Vũ Nương lại hết lòng yêu thương và chăm sóc con. Thương con lớn lên trong cảnh thiếu cha, ngày ngày nàng chỉ chiếc bóng trên tường và nói với con đó là cha nó. Ta có thể thấy một khao khát gia đình trọn vẹn để con được đủ đầy yêu thương. Bi kịch của cuộc đời Vũ Nương, có chăng cũng là từ tình yêu thương con ấy mà ra.

Nét nổi bật nhất trong vẻ đẹp của Vũ Nương có lẽ chính là tấm lòng chung thuỷ một lòng với chồng. Khi chồng ở nhà, nàng khôn khéo đảm đang không để chồng phật ý, khi chồng ra trận, nàng lại một lòng chăm sóc mẹ già con nhỏ. Nàng sống trong nỗi nhớ chồng, khao khát được gặp lại người chồng của mình. Nàng luôn giữ được hai chữ “tiết hạnh” để không có lỗi với chồng. Chiếc bóng xuất hiện mỗi đêm có lẽ là minh chứng rõ nhất cho sự thuỷ chung của Vũ Nương. Và đặc biệt, khi chết đi, nàng quay trở lại gặp chồng lần nữa, một mặt là khẳng định tấm lòng chung thuỷ, một mặt vẫn còn lưu luyến tình xưa nghĩa cũ. Tấm lòng chung thuỷ của Vũ Nương, không ai có thể phủ nhận. Đó chính là vẻ đẹp tiêu biểu nhất cho người phụ nữ Việt Nam, dù chịu bất công nhưng một lòng chung thuỷ.
Tiếng nói nhân đạo của Nguyễn Dữ, ta còn gặp ở sự đồng cảm với khát vọng hạnh phúc của con người. Cuộc đời Vũ Nương luôn là những chuỗi ngày bị ép buộc, chờ đợi. Nàng luôn khát khao về một mái ấm gia đình có đủ đầy tình yêu thương nhưng không thành hiện thực. Nguyễn Dữ để nàng sống hạnh phúc ở một thế giới khác, không còn khổ đau hờn ghen, chính là để hiện thực hoá ước mơ hạnh phúc của con người.

Xem thêm:  Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh- văn lớp 12

“Chuyện người con gái Nam Xương”, với những giá trị hiện thực và nhân đạo của mình, đã thực sự chạm được đến phần sâu kín nhất của trái tim con người. Đó là nỗi lòng của chính Nguyễn Dữ, là cặp mắt nhìn đời tinh anh sắc sảo và tấm lòng nồng ấm yêu thương. Tác phẩm đã cho ta thấy được cái tâm và cái tài của một nghệ sĩ lớn, đó mới là nghệ thuật chân chính ma muôn đời con người theo đuổi.

Thời gian vẫn sẽ tuần hoàn theo quy luật của nó, nhưng ta sẽ vẫn còn nhớ về tác phẩm để hoài niệm về quá khứ xa vắng, để đau xót, để yêu thương!

BÀI VĂN MẪU SỐ 2 CẢM NGHĨ SÂU SẮC VỀ CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG

Văn học không ngừng kế thừa và tiếp biến hấp dẫn độc giả. Tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ cũng vậy, câu chuyện còn đọng lại trong ta nhiều suy nghĩ sâu sắc về xã hội phong kiến và thân phận người phụ nữ đương thời.

Hình ảnh xã hội phong kiến thu gọn trong gia đình nàng Vũ Nương với người chồng đa nghi, thất học, có thói gia trưởng là Trương Sinh. Khi nghi oan cho vợ, chàng mắng nhiếc, không chịu nghe Vũ Nương và hàng xóm phân trần, lại còn đánh đuổi nàng đi. Phải chăng đằng sau những hành động vũ phu ấy có cả một thế lực đen tối hậu thuẫn cho chàng? Quan niệm lạc hậu “ trọng nam khinh nữ” trở thành cái cớ che chở cho cơn giận phi lí của chàng Trương. Xã hội phong kiến còn xuất hiện làm chia rẽ hạnh phúc gia đình. Có lẽ chính những cuộc chiến phi nghĩa là nguyên nhân gián tiếp gây ra cảnh tan cửa nát nhà, khiến mẹ già mong nhớ con tới đổ bệnh, cảnh con không biết mặt cha, vợ xa chồng… Cảnh biệt ly đau thương càng làm Trương Sinh một mực nghi oan vợ ngoại tình. Tác giả Nguyễn Dữ giúp ta cảm nhận được những mất mát, bất công trong hoàn cảnh xã hội bấy giờ.

Mặc dù cốt truyện dựa theo câu chuyện cổ “ Vợ chàng Trương” nhưng những sáng tạo của tác giả là vô cùng lớn. Ta có thể thấy rõ nét thân phận khốn cùng của người phụ nữ đương thời qua hình tượng nàng Vũ Nương. Qua ngòi bút tài tình, khắc họa nhân vật, nàng là người nết na, đoan trang, luôn vun đắp hạnh phúc gia đình. Lời đưa tiễn chồng ra trận phản ánh lòng sắt son, chân tình: “ thiếp chẳng mong được đeo ấn phong hầu,…chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”. Ước mong giản dị không giống như người chinh phụ tiễn chồng trong “ Chinh phụ ngâm”, Vũ Nương coi trọng mái ấm gia đình hơn công danh phý quý phù phiếm. Lời chăn chối của mẹ chồng trước lúc ra đi xóa bỏ quan niệm mẹ chồng nàng dâu phong kiến hay sự đảm đang, trung hiếu của nàng khiến mẹ chồng cảm mến? Lẽ ra người con gái thảo hiền, phải đạo, một mình lo toan gia thất ấy xứng đáng được đón nhận tình yêu thương, niềm vui khi người chồng bình an từ mặt trận trở về. Nhưng nàng không thể biết được sự ngây thơ trong lời nói của đứa con làm Trương Sinh nảy sinh mối hồ nghi mà giây phút đoàn tụ chưa lâu đã bị dập tắt. Tác giả Nguyễn Dữ sử dụng nghệ thuật trần thuật độc đáo, bất ngờ khi để chi tiết chiếc bóng trên tường vừa là nút thắt vừa mở nút thắt đến cuối đoạn cao trào. Chiếc bóng mỏng manh, ẩn hiện, mờ ảo cũng giống như số phận nàng Vũ Nương hay người phụ nữ lúc đó chăng? Dù họ sống tảo tần, lam lũ, thủy chung, xã hội đó cũng không còn chỗ cho họ nương thân. Nỗi oan tày trời ập đến nhưng nàng Vũ Nương dù có giải thích cũng vô hiệu. Ba lời thoại trước khi chết là sự sáng tạo của tác giả, đồng thời giúp ta thấy vẻ đẹp, nỗi khốn khổ của nàng. Từ chỗ cố hàn gắn vết rạn nứt trong mâu thuẫn gia đình: “ Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ”, đến nỗi lòng quặn thắt khi khao khát vun đắp không còn “ Nay đã bình rơi trâm gãy…”. Bao lời lẽ trang trọng, với bút pháp ước lệ cho thấy Vũ Nương là người trong sạch, hết mực yêu chồng. Cuối cùng, cái chết như sự giải  thoát, nàng thà chết còn hơn sống mang tiếng nhơ. Lời nguyền của nàng trước khi trầm mình xuống dòng nước khẳng định lại phẩm giá thanh cao, sự bất lực và nỗi đau tột cùng. Yếu tố thực và kì ảo hòa quyện tạo nên bức màn huyền ảo, lôi cuốn người đọc. Chưa dừng lại ở nỗi oan khuất của Vũ Nương, lời trăn trối của nàng làm rung động các vị tiên nên họ đưa nàng xuống thủy cung. Cuộc sống mới ấy phù hợp với con người nàng nhưng vốn nặng lòng với quê hương, gia đình, nên khi Phan Lang gặng hỏi nàng đáp: có ngày sẽ trở về. Mỗi hàm oan được cởi bỏ nhưng chàng Trương nhận ra đã quá muộn, chàng lập đàn giải oan cho nàng nhưng sự thật không gì thay đổi được, chàng đã không trân trọng vợ mình và Vũ Nương không thể làm mẹ, làm người vợ hiền được nữa. Tác giả không trốn tránh nhìn nhận sự thật đau buồn mà khắc họa rõ nét gây ám ảnh độc giả qua hình ảnh bóng nàng mờ dần rồi biến mất như thân phận bọt bèo của người phụ nữ đương thời.

Xem thêm:  Soạn bài Viết Quảng Cáo đầy đủ hay nhất lớp 10

“ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ còn lưu lại trong lòng ta những suy ngẫm sâu sắc về con người, cuộc đời trong xã hội cũ còn lắm bất công, oan trái.

Nguồn Internet