Văn mẫu THPT

Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận tuyệt hay

Phân tích bài thơ Tràng Giang của nhà thơ Huy Cận.

Bài làm

      Nhà phê bình Hoài Thanh đã từng nói:”Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở hồn ta về cùng Huy Cận”. Với tầm nhìn chiến lược sâu rộng, lời thơ tinh tế, đa cảm, lãng mạn và đam mê của một thi sĩ tài hoa. Huy Cận đã có nhiều cống hiến cho nên văn chương hiện đại, đặc biệt thơ ông thường mang nỗi sầu nhân thế và ca ngợi thiên nhiên vũ trụ. Bài thơ Tràng Giang là một tác phẩm như thế. Đó là bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng của ông trước Cách mạng. Nội dung mang nhiều tâm sự, u hoài trước kiếp người bé nhỏ , trôi nỗi giữa dòng đời mệnh mông, vô định.

       Huy Cận là một nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ mới với những tác phẩm tiêu biểu có sự kết hợp hài hòa giữa chất cổ điển và hiện đại. Mang phong cách thơ trữ tình, đằm thắm, bài thơ Tràng giang đã để lại trong lòng người đọc nhiều nỗi niềm khó tả. Đó là nỗi niềm u buồn, sầu thương gợi nên sự bế tắc của kiếp người trong cuộc sống lênh đênh, phiêu bạt. Ngay từ lời đề từ của bài thơ, tác giả cũng đã khái quát được tư tưởng và cảm xúc chủ đạo trong bài. Hai chữ “tràng giang” đã gợi nên nội dung,ý nghĩa bao trùm toàn bài. Có thể nói, đó là một con sông dài, rộng, mênh mông. Qua đó, phần nào gợi nên chút tâm tư của thi nhân khi đứng trước số phận nổi trôi, bé nhỏ trên dòng sông bát ngát cùng nỗi sầu u uất. Câu đề giản dị, bình thường nhưng gợi lên bao suy nghĩ về tâm sự của nhà thơ. Con sông dài, miên man, tít tắt cứ vỗ sóng đều đặn trong cả bài thơ, sóng dậy lên, cuộn mãi trong lòng nhà thơ và làm rung động cả trái tim người cảm nhận.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

       Bức tranh thiên nhiên và tâm trạng nhà thơ đã được thể hiện chân thực, sâu sắc từ những câu thơ đầu tiên. Hình ảnh “sóng gợn”, “con thuyền”, “nước song song” đã tạo ra một cảnh sông mênh mông, vô tận. khung cảnh ấy được mở ra với hình ảnh dòng tràng giang phẳng lặng, một con thuyền lặng lẽ trôi, một cành củi khô lênh đênh trên dòng nước bao la đã gợi ra bao cảm giác buồn của con người hiện đại. “sóng gợn tràng giang” nhưng nhà thơ lại cảm thấy “buồn điệp điệp”. Tâm trạng ông được thể hiện rõ ràng trong từng câu chữ.  Điệp từ “điệp điệp” được đặt sau nỗi “buồn” càng tạo nên một nỗi sầu tột độ. Từ cái hữu hình của làn sóng trên sông mà dường như, ta nhận ra được cả cái vô hình của nỗi buồn con người. Cứ ngỡ rằng, thuyền và nước là hai sự vật gắn bó nhưng ở đây lại là sự xa cách hững hờ. “Con thuyền xuôi mái”và “nước song song”. Thuyền và nước theo hai chiều đối ngịch, đó là cuộc chia li “sầu trăm ngả” của những sự vật trên dòng giang. Với hình ảnh thơ đặc sắc, cách gieo nhịp rõ ràng, bài thơ như tạo ra được một bức tranh thiên nhiên mĩ lệ, yên ả. Hình ảnh dòng sông mênh mông cứ loang ra, gối lên nhau, dòng nước thì cuốn đi tận phương nào xa xôi đã dấy lên trong ta một dư vị miên man, man mác buồn trong vị thơ của hồn thơ Huy Cận. Dòng sông lặng tờ tĩnh mịch, trên sông “củi một cành khô lạc mấy dòng”. Câu thơ có sự đảo ngữ để tạo nên điểm nhấn cho sự việc. Có lẽ, đó là dụng ý của tác giả để gây ấn tượng trong câu. Cành củi khô nhở bé trôi dạt trên dòng sông mênh mông. Điều khó hiểu ở đây là nhà thơ cố tình làm rõ củi chỉ có một cành gợi nên sự đơn chiếc, cô đơn, nhưng lại vô lí hơn, chỉ một cành củi nhỏ nhưng “lạc mấy dòng”. Có thể ở trong câu trên, tác giả muốn gợi lên một liên tưởng, cành củi ấy chính là hóa thân, ẩn dụ cho con người nhỏ bé giữa dòng đời vô tận, lạc về nhiều phương xa. Nhạc tính là nét độc đáo cho khổ thơ để thể hiện âm điệu trầm bổng đều đặn, cấu trúc đăng đối cho thơ. Với tiết tấu nhẹ nhàng, cách gieo vần có nhạc điệu, khổ thơ trên đã diễn tả được nỗi buồn trầm lắng của Huy Cận trước thiên nhiên rộng lớn, mênh mang.

Xem thêm:  Nghị luận xã hội về tình bạn của em

“Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

Là sóng của sông hay sóng trong lòng người?”

   “Nhà thơ đã gọi dậy cái hồn buồn của Đông Á,… đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này”. Ở khổ thơ thứ hai, bức tranh thiên nhiên lại tiếp tục được vẽ ra, nhưng hình như, nỗi buồn và sự cô liêu của cảnh vật đã tăng lên gấp bội:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

      Bức tranh phía bên kia dòng sông với những nét vẽ đơn sơ: mấy “cồn nhỏ gió đìu hiu”, thưa thớt của “chợ chiều”, còn có “nắng”, “trời…sâu chót vót”, “sông dài”. Nó như thể hiện sự hoang vắng, hiu hắt của khung cảnh bên sông. Bức tranh thiên nhiên ấy đã gợi nên nỗi buồn và cô đơn của con người, chỉ vài cồn đất “lơ thơ”, làn gió chỉ thổi “đìu hiu”, nhẹ bẫng. Quả là một khung cảnh của sự bơ vơ, trống trải nhưng đượm nỗi sầu nhân thế trước cảnh sông nước mênh mang. Giống cảnh tượng trong câu thơ của bài “Chinh phụ ngâm” gợi lên:

“Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”

Cảnh sông nước đã hoàn chỉnh hơn với những nét vẽ mềm mại, uốn lượn, nhịp nhàng:“lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu”. Bỗng chốc thoáng lên một vẻ lặng tanh, văng vẳng, cô đơn đến rợn ngợp. Lại một chút âm thanh mơ hồ, âm thanh rất nhỏ của “tiếng làng xa vãn chợ chiều” càng gợi thêm không khí tàn tạ, vắng vẻ tuy thoáng chút hơi người. Cảm nhận của nỗi buồn không chỉ trong không gian mà cả trong thời gian. Thời gian ngã chiều tà hiu hắt, giữa dòng sông dài lặng thinh và bầu trời xa cách, con người bỗng cảm thấy bơ vơ trong bức tranh của tạo hóa. Theo hai chiều đối nghịch :”nắng xuống chiều lên sâu chót vót” của hiện tượng tự nhiên đã khiến khoảng cách đã xa lại càng thêm xa trong cái nhìn của nhà thơ. Trời “sâu chót vót”– cách dùng từ tài tình ấy đã cho ta thấy được sự vô cùng của không gian, trời như được nâng cao hơn, vẽ ra cái thiên địa vô thủy vô chung. Trời trên đầu, trời soi bóng xuống tràng giang để vũ trụ mở ra trong vô tận. Trong cái vô hạn của “sông dài,trời rộng” ta phát hiện ra cái hữu hạn của sự vật hiện hữu trong thơ: “bến cô liêu”. Vũ trụ rộng lớn, nhưng đứng trước suộng lớn ấy chỉ là một thân phận nhỏ bé, cô đơn của con người. “sông dài, trời rộng” đối lập hoàn toàn với “bến cô liêu’. Đó là sự tương phản giữa cái nhỏ bé và cái vô cùng của thiên nhiên. Qua đó gợi lên trong lòng người một cảm giác trống vắng, quạnh hiu. Bút pháp “hoa vân hiền nguyệt” của Huy Cận đã gợi tả không gian thiên địa thật chân thật, biểu hiện được sự cô đơn, lạc lõng giữa dòng đời của con người. Với cách gieo vần tài tình, điệu thơ xúc cảm dạt dào, trẩm bổng. Huy Cận như muốn lấy âm thanh để xóa nhòa không gian buồn tẻ nhưng không được. Nhà thơ lại cố tìm sự giao cảm cùng không gian bao la nhưng tất cả đều đóng kín. Chỉ đành chấp nhận làm con người nhỏ bé, cô độc giữa vũ trụ rộng lớn này.

phan tích bài tho tràng giang của nhà tho huy cạn tuyet hay - Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận tuyệt hay

Phân tích bài thơ Tràng Giang

        Dòng sông cứ lênh đênh trôi mãi về tít tắp phương xa, lòng người lại càng giao động giữa cảnh đất trời buồn tẻ. Thiên nhiên đang trầm mặc, sự vật cũng như đang lặng lẽ đi tìm lẽ sống trong thế giớ bao la, mơ hồ:

Xem thêm:  Văn mẫu nghị luận: Ôi! Sống đẹp là thế nào, hỡi bạn

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật.

 Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

         Hình ảnh cái bèo trôi bồng bềnh trên sông như gợi ra một cái gì đó bấp bênh, trôi nổi, nó khiến ta liên tưởng đến một kiếp người đang bơ vơ giữa dòng đời vô định, hư vô. Nhưng trong câu thơ, không chỉ một hay vài ba cánh bèo nhỏ, mà nó còn “hàng nối hàng” khiến lòng người rợn ngợp trước thiên nhiên rộng lớn. Đó là những điều được bộc tả từ cõi lòng đau đớn, cô đơn. Hình ảnh “bèo” được diễn tả như nói thay lời của con người với thân phận, kiếp đời chìm nổi, lênh đênh, không phương hướng. Tiếp tục lại là một câu hỏi tu từ “về đâu” như muốn nói lên  sự mất phương hướng của một con người trước cảnh vật và vũ trụ bao la. Sự mênh mang của thiên nhiên cứ tiếp nối triền miền, “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”  như đã mở ra một không gian rộng lớn, thiên nhiên tiếp nối thiên nhiên, “bờ xanh” rồi lại tiếp “bãi vàng”. Sự vật cứ liên tiếp nối nhau hiện hữu trong bức tranh sông nước. Nhà thơ đã vẽ và chấm phá lên đó những nét buồn thật đượm, dường như không có con người, không có sự giao hòa, nối kết:”mênh mông không một chuyến đò ngang/Không cầu gợi chút niềm thân mật”. Trước mắt Huy Cận bây giờ không có gì gọi là “niềm thân mật” để kéo mình khỏi nỗi buồn đang vây kín quanh mình, hình như trong không gian ấy chỉ có sự mênh mang, huyền ảo của thiên nhiên, của sông nước và bầu trời. Một “chuyến đò ngang” cũng không, sự vô vọng khi đứng giữa hoàn cảnh ấy quả là một sự bế tắc đến tột đỉnh. Chuyến đò như là phương tiện giao kết của con người, của tâm hồn mình với tâm hôn khác nhưng cũng không tồn tại. Sự tìm kiếm lối thoát của thi nhân đang trong tình trạng hư không, bất lực. Điệp từ “không” được lặp lại càng làm thêm vẻ trống trải trong câu thơ thêm phần cao trào. Tất cả như là hư vô, chỉ có con người ấy cô độc trước thiên nhiên mây trời. Khổ thơ thứ ba đã thể hiện niềm khao khát tha thiết của tác giả đối với thiên nhiên tạo hóa. Như là một bức tranh thấm đậm tình người, mang sắc thái của nỗi buồn bâng khuâng trước kiếp người, kiếp đời, trước sự bơ vơ, buồn thiu của số phận. Đặc biệt đằng sau đó chính là nỗi buồn của người dân thuộc địa trước cảnh mất nước đầy đau thương.

        Ở một phương diện nào đó, Xuân Diệu đã từng nhận xét:”Chàng than nỗi tháng ngày vùn vụt, bảo rằng hoa xuân không đậu, đời thoảng mùi ôi, trong khi mình chưa sống hết tuổi xuân, đang độ trẻ măng của đời người! Cái tiếc sớm, cái thương người ấy chẳng qua là sự trá hình cho lòng ham đời, là cái tật dĩ nhiên của kẻ yêu sự sống”. Trước hoàn cảnh nước mất nhà tan, nhà thơ tiểu tư sản ấy đang do dự không biết nên bước về phương nao. Sự sống luôn là lẽ tất yếu trong tâm hồn mỗi một con người. Trước sự vô định của thế thời, trong hoàn cảnh cả nước đang chìm đắm trong vòng xoay nô lệ, cách mạng chưa thành, lòng người nghệ sĩ lại càng vướng bận. Bức tranh tràng giang ấy chẳng qua là nỗi lòng người con Việt Nam trước hoàn cảnh lúc bấy giờ. Trong tâm hồn những con người ấy đang đăm đắm một nỗi hoang mang to lớn. Mà chỉ có thơ để diễn tả nỗi lòng:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc…

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

        Hình ảnh cổ điển ước lệ :”mây”, “chim” đã vẽ nên một bức tranh ban chiều thơ mộng, hùng vĩ, êm đềm. Ở câu thơ thứ nhất:”lớp lớp mây cao đùn núi bạc” như gợi cho ta cảm giác thiên nhiên vừa quen thuộc, vừa lớn lao, kì vĩ. Trước mắt ta hiện ra cả một bức tranh tuyệt đẹp, bầu trời ca, lớp mây trắng “đùn” ra như những hòn “núi bạc”. Trên nền trời cao ấy, lại xuất hiện thêm hình ảnh vật thể hiện hữu “chim nghiêng cánh nhỏ” khiến bức tranh bầu trời giữa dòng tràng giang trở nên sông động, kì vĩ đến lạ. Với thời gian khi “bóng chiều sa” dường như lại đưa ta trở về với cảm xúc buồn rượi. Đó là hai nét vẽ chấm thêm  vào bức tranh sông nước. Dẫu rằng đó là hai nét vẻ tưởng chừng không liên quan đến nhau nhưng lại có quan hệ mật thiết. Chim nghiêng đôi cánh nhỏ kéo bóng chiều trĩu xuống dòng tràng giang sâu thẳm và bóng chiều ấy lại đè nặng lên đôi cánh của chim làm nó nghiêng mình giữa bầu trời rộng lớn. Câu thơ ấy vừa gợi không gian vừa diễn tả thời gian, hình ảnh chim và bóng chiều tượng trưng cho góc thẩm mĩ của cảnh hoàng hôn trong thơ ca cổ điển. Bóng chiều vốn vô hình nhưng ở đây ta cảm giác được đó là vật hữu hình bởi nhà thơ đã hữu hình hóa cái vô hình để dòng cảm xúc trong thơ thêm sinh động. Những sự vật rất đỗi bình thường, quen thuộc của tạo hóa nhưng dường như đã đem lại cho người đọc những cảm xúc thân thuộc, gần gũi của quê hương, đất nước. Để rồi, cảm xúc ấy được bộc lộ trong hai câu thơ kết bài với tình cảm chân thật, mộc mạc, trữ tình:”Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Nỗi nhớ mênh mang chìm đắm trong cõi lòng Huy Cận, để khi tìm đến với cảnh vật, ông lại nhớ về quê hương. Đó là cảm giác đau đớn vô cùng khi người con của quê hương đang đứng trên chính mảnh đất của quê mình lại thấy nhớ quê da diết. Phải chăng vì hoàn cảnh của tàn cuộc lúc bấy giờ đã đẩy tâm trạng con người trở nên bi thương, đa cảm. Trải theo con nước vời vời, “lòng quê” lại cuộn trào “dợn dợn” như những con sóng nước trên sông. Từ láy “dợn dợn” đã tạo nên một nỗi lòng khắc khoải, bồi hồi trước nỗi nhớ quê hương. Câu thơ đã mượn hình ảnh  dòng nước trên sông để nói về nỗi nhớ. Nỗi nhớ ấy sâu nặng, da diết đã thấm đẫm trong dòng máu của tác giả. Chủ thể trữ tình được gợi ra không chỉ qua con nước, mà nó còn có trong “khói hoàng hôn” gợi lại bao cảm xúc cho nhà thơ. Ông nhớ quê hương qua những hình ảnh bình dị mà thân thương. Lòng “nhớ nhà” sâu sắc càng hiện thêm sự đau khổ trong tâm hồn thi sĩ. Con người ấy đang mang tâm trạng của tình thương và sự thương nhớ. Đó là nỗi nhớ về tình quê, tình người, nỗi nhớ thấm thía trong những khổ thơ cuối cùng qua vần thơ mĩ lệ, hàm súc. Lòng yêu quê và nhớ quê, nhớ nhà tha thiết của Huy Cận chẳng biết gửi vào đâu, chỉ biết chất chứa, đong đầy trong tâm để rồi khi gửi vào thơ, cảm xúc ấy đều chân thực và cô đọng. Nỗi nhớ quê nhà sâu nặng đang thường trực trong trái tim người nghệ sĩ và được gợi ra bằng làn khói lam chiều trong hoàng hồn như trong thơ Thôi Hiệu:

Xem thêm:  Giáo án thao giảng Hạnh Phúc của một tang gia- Vũ Trọng Phụng

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”

      Thiên nhiên trong thơ cũng là tâm sự trong lòng người. Có những cảnh lộng lẫy, sinh động như những tấm thảm; cũng có những lời thơ làm cho người đọc rụng động với những cảm xúc chân thành. “Tràng giang” là bài thơ ca hát về non sông đất nước, là lòng yêu quê hương, Tổ quốc của người thi sĩ. Nói như Xuân Diệu “có Tràng Giang mới có đất nở hoa và những bài thơ cuộc đời đằm thắm nồng hậu”. Bài thơ được Huy Cận gây dựng với điệu thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, dào dạt cảm xúc,tâm tư, vừa mang âm hưởng cổ điển và hài hòa với chất hiện đại độc đáo trong phong trào thơ mới. Đó là tiếng lòng của người nghệ sĩ, cũng là tiếng đồng vọng của những người dân mất nước lúc bấy giờ.

Bùi Phương Thảo

Post Comment