Văn mẫu THCS

Phân tích bài thơ Ánh Trăng của nhà thơ Nguyễn Duy tuyệt hay

Phân tích bài thơ Ánh trăng của nhà thơ .

Bài làm:

Vốn dĩ, không phải ngày nay mà từ xa xưa, những vầng trăng của tạo hóa đã là một đề tài rất đỗi quen thuộc và là cảm hứng bất hủ của thi nhân. Trăng là người bạn tâm giao, không chia kim cổ, không biệt đông tây, trăng hiền hòa, trăng êm dịu. Đó là người bạn tri kỉ làm vơi nỗi cô đơn trong câu thơ của Lý Bạch. Trở thành đôi bạn dưới đêm khuya canh giữ nơi chiến trường cùng Chính Hữu. Trăng đẹp nhưng kì dị, đầy ấn tượng trong hồn viết của Hàn Mặc Tử. Hay trong thơ của Hồ Chí Minh cũng đầy lãng mạn, chân thực. Và khi đến với “Ánh trăng” của nhà thơ Nguyễn Duy, vầng trăng ấy lại trở thành hình tượng để gửi gắm những thông điệp ý nghĩa, mang giá trị thẩm mĩ quan và nhân đạo, nhân sinh sâu sắc. Bài thơ gợi nên cảm xúc về những thuở xưa của tác giả cùng những sự vật bình dị ngày xưa để từ đó gợi lên một lời nhắc nhở về ân tình, thủy chung, nhớ về nguồn cội.

Trăng – hình ảnh giản dị của tự nhiên, quen thuộc và trong sáng, trữ tình. Đối với Nguyễn Duy, về vầng trăng ấy chính là chiêm nghiệm về và cội nguồn trong lòng ông. Có thể nói, thơ của Nguyễn Duy sâu lắng và thấm đẫm hồn ca dao nồng nàn. Là một nhà thơ thời kháng chiến chống Mỹ, nhà thơ đã trải qua cả quá trình từ khó khăn, gian khổ trong thời chiến và hòa bình khi đã đánh tan được giặc Mỹ. Và ông nhận ra rằng, ánh trăng chính là người bạn tâm giao, tri kỉ, đã cùng đi suốt chặng đường lịch sử hiểm nguy để đổi lấy hòa bình của đất nước. Hồn thơ Nguyễn Duy không tìm ra những cái mới, mà ngược lại, thơ ông lại đi sâu vào cái nghĩa tình muôn đời của thời đại. “Ánh trăng” là một bài thơ như thế, bài thơ mang âm điệu nhẹ nhàng của vầng trăng yêu thương, vầng trăng tình nghĩa, vầng trăng đánh thức hồn người.

Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ.

Mở đầu bài thơ, tác giả đã gợi nên một bức tranh quá khứ với kí ức tuổi thơ trong thời chiến tranh bình dị, thân thương. Hình ảnh vầng trăng kia như đang trải rộng khắp không gian tuổi thơ của Nguyễn Duy, vừa êm đềm, vừa trong sáng. Vầng trăng trong quá khứ hiện lên cùng sự gắn bó thân thương với người từ nhỏ cho đến khi trưởng thành, cả những giây phút trải qua gian lao và niềm hạnh phúc tràn ngập. Cụm từ “hồi nhỏ” đã cho ta biết được nhà thơ đang kể về tuổi thơ của mình “sống với đồng/ với sông rồi với bể”. Đó là không gian tươi đẹp, chan hòa và gắn bó với thiên nhiên, với những thứ bình dị nơi làng quê chan chứa. Điệp từ “với” đã thể hiện được sự gắn kết cùng nhiều thứ trong cuộc sống. Nhà thơ hòa nhập với thiên nhiên một cách tự nhiên, như là bản năng sẵn có của con người. khổ mang bao thử thách, nhưng ở đó cũng có những sự gắn kết, nghĩa tình đáng trân quý. Thời bình cũng như thời chiến, “hồi chiến tranh ở rừng/vầng trăng thành tri kỉ”. Dù bất cứ nào, vầng trăng ấy vẫn luôn dõi theo và sống gắn bó với con người để rồi trở thành người bạn “tri kỉ”, thân thiết với con người. Ánh trăng soi rạng đêm khuya, bầu bạn với những cõi lòng cô đơn và rồi họ cùng nhau chia sẻ những nỗi niềm trong lòng, giãi bày tâm sự cùng vầng trăng mà tưởng chừng nó cũng hiểu. Các biện pháp nhân hóa, xem vầng trăng trên cao như là một người bạn và biện pháp liệt kê trong khổ thơ đầu đã thể hiện được sự gắn bó bền chặt, thấm đậm nghĩa tình của con người và ánh trăng tri kỉ.

Xem thêm:  Giới thiệu đôi dép lốp trong kháng chiến

   Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa

Năm tháng đã đi qua, cuộc đời người lính đã trải qua bao năm tháng thăng trầm của lịch sử. Họ gắn bó với thiên nhiên và đất nước hiền hòa, bình dị. Và vầng trăng chính là người bạn tâm tình mà nhà thơ “ngỡ không bao giờ quên/ cái vầng trăng tình nghĩa”. Âm điệu câu thơ như càng thêm liền mạch, gắn kết bởi các vần lưng:”trần trụi”, “thiên nhiên”, “hồn nhiên”. Dường như, cảm xúc nhà thơ đang tràn đầy và trào dâng mãnh liệt. Hình ảnh so sánh ẩn dụ ấy đã tô đậm thêm cái vẻ ngoài “trần trụi”, “hồn nhiên” của người lính trong những tháng năm sống ở rừng gian khổ. Thiên nhiên ấy vốn mộc mạc, hoang sơ và con người cũng vậy, vô tư sống giữa rừng và mang một tâm hồn tự do, trong sáng. Từ “ngỡ” như đang khẳng định một điều chắc chắn, sẽ không quên “vầng trăng tình nghĩa”, người bạn đã cùng gắn bó với con người để hồn người trở nên nhẹ nhàng, êm ái. Ở đây, nhà thơ đã dùng nghệ thuật so sánh để thể hiện sự chan hòa của ánh trăng và người lính. Họ sống với nhau bằng “tình nghĩa” bền đẹp, mãi mãi. Vầng trăng là biểu tượng của quá khứ hào hùng đầy gian khổ, là nghĩa tình của những người dân nhường cơm sẻ áo, đó cũng chính là tình đồng đội, đồng chí gắn bó keo sơn, bền chặt và là nét đẹp bình dị, thân thương của đất nước muôn đời, của thiên nhiên vĩnh hằng.


phan tich bai tho anh trang cua nha tho nguyen duy tuyet hay - Phân tích bài thơ Ánh Trăng của nhà thơ Nguyễn Duy tuyệt hay

Phân tích bài thơ Ánh trăng

 Thời gian vốn là thứ vô tình nhưng cũng có tình. Vô tình là bởi chính thời gian sẽ xóa nhòa đi mọi thứ, làm thay đổi dần bộ mặt của cuộc sống. Nhưng cũng rất có tình vì sau bao nhiêu năm, con người vẫn luôn nhớ về quá khứ, về những thứ thân thương đã gắn bó gần gũi. Trở về với thành thị xa hoa, đường phố lóe những ánh đèn đêm, dường như con người dần quên mất người bạn tri kỉ đã cùng sống một thời. Màn đêm buông xuống, vẫn như thường lệ, vầng trăng hiền hòa nhô lên nhưng cùng với đó là ánh sáng của đèn đường xuất hiện, che mờ dần ánh sáng của trăng. Ở đâu đó, sự bao ngập toàn thành phố, trăng dần trở nên xa lạ:

Từ hồi về thành phố

quen ánh điện cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường

 

Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn-đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn

Cuộc sống thành thị đã phủ đầy không gian, hiện tại đang là thế giới của thời hiện đại, hòa bình. Hoàn cảnh sống đã thay đổi, vầng trăng cũ bị con người lãng quên. “Từ hồi về thành phố/ quen ánh điện cửa gương”, quen với những thứ hiện đại, với cuộc sống công nghệ cao hơn. Mà con người buộc đổi thay với thái độ vô tình đến mức tàn nhẫn, “vầng trăng đi qua ngõ/ như người dưng qua đường”. Môi trường sống bây giờ đã hiện đại khác xưa, người ta dùng đèn điện để soi sáng, ánh sáng ấy còn sáng hơn cả ánh sáng của trăng. Ở đây, có một sự đối lập hoàn toàn. Nếu như trước đây, không gian ấy là làng quê, rừng núi với đồng ruộng, sông suối thì nay đây là không gian của thành phố, khác hẳn với trước kia. Thời gian dường như cũng cách biệt, tuổi thơ, đến thời chiến tranh, cho tới khi hòa bình lập lại và con người về thành phố. Và cả điều kiện sống nữa, cuộc sống chật hẹp, khép kín cùng những phương tiện hiện đại đã làm đổi thay sự sống con người. Vầng trăng dường như trở nên xa lạ và bị người ta lãng quên. Biện pháp so sánh “như người dưng” đã thể hiện được sự vô tình của con người. "Ánh trăng" chính là người bạn trên cao đã soi sáng muôn nơi, soi đường trong đêm khuya để con người không bị màn đêm tối đen bao phủ. Vầng trăng hiền hào, êm đềm đã thổi hồn vào lòng người để tâm sự với con người lúc cô đơn. Vậy mà, khi hòa bình lập lại, quá khứ đã khép và mở ra một cuộc sống hiện đại, con người lại vội vàng quên lãng đi những kỉ niệm đẹp ngày xưa, ở cùng vầng trăng. Đến khi vỡ lẽ, “thình lình đèn điện tắt”, một sự cố của thời hiện đại, phòng tối om, người ta lại vội mở những cánh cửa sổ mới thấy “đột ngột vầng trăng tròn”. Con người khó chịu, bức bối khi điện mất nên mới có hành động khẩn trương, hối hả, đi tìm nguồn sáng để bóng tối đỡ bao vây. Hai từ láy “thình lình”, “đột ngột” ấy đã gợi tả một sự bất ngờ và từ đó, người ta như nhận ra, ánh trăng mang giá trị mọi thời. Thời gian trôi qua đã vô tình cuốn trôi mọi thứ như một cơn lốc mạnh mẽ đến vô cùng. Chỉ còn tình cảm ở lại trong tâm hồn như những ánh dương sáng lòa. Phép nhân hóa vầng trăng trong đoạn thơ trên quả thực làm người ta rung động và từ đó mà cảm thương cho người bạn “tri âm, tri kỉ” của mình. Sự ồn ào nơi phố phường cũng những công việc hằng ngày vất vả nơi đô thị tấp nập đã khiến người ta quên bãng đi quá khứ,và khi mọi thứ quá xô bồ, lấn át tâm trí, đã khiến con người trở thành kẻ quay lưng với quá khứ. Con người khi sống trong mọi thứ đủ đầy về mặt vật chất thì thường quên đi những giá trị tinh thần đáng quý, để rồi khi “thình lình”., bất chợt những thứ vật chất ấy mất đi tạm thời, người ta mới vội nhớ đến quá khứ huy hoàng, tươi đẹp.

Xem thêm:  Kể về người bạn thân của em lớp 7 hay đầy đủ

Vầng trăng dù khuyết dù tròn thì nó vẫn mang tình cảm sâu đậm đối với con người. Hình ảnh trăng có lẽ là thứ tròn trịa nhất của thiên nhiên, không chói lóa như mặt trời, trăng hiền lành, êm ả. Như trong thơ Trần Mộng Tú, trăng mang nét riêng tư:

“Vườn xưa lối cũ trăng còn sáng,

Thềm vắng còn ai đứng đợi chờ

Trăng nước thân yêu còn lắng đợi,

Giữ giùm nước mắt kẻ ra đi”

(Trăng Đất Khách)

Dòng sông trăng, cánh đồng trăng, tất thảy đều có trăng. Vầng trăng đã đi theo con người suốt những năm tháng đằng đẵng dài, nhưng lòng người lại đổi thay bất chợt. Hình ảnh trăng khuya bay ngang trên bầu trời bất chợt rọi vào căn phòng tối om đã mở ra một nút thắt trong lòng người:

Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì dưng dưng

như là đồng là bể

như là sông là rừng

Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” đã gợi nên một sự đối diện trực tiếp của con người với ánh trăng. Phải chăng, đó là sự đối diện của quá khứ nghĩa tình, tuổi thơ cho đến lúc trưởng thành đã sống cùng ánh trăng vẹn tình nhưng con người lại có lúc vô tình đến tàn nhẫn. Đó là một tư thế tập trung cao độ, tâm trạng nhân vật trữ tình dường như đang xúc động, “có cái gì rưng rưng”, tâm hồn thì thổn thức đến độ xót xa, cay đắng. Từ láy “rưng rưng” đã diễn tả một cảm xúc chân thực, là sự xúc động, xao xuyến đến tột độ, vừa gợi nhớ, vừa gợi thương. Và tiếp đó, nhà thơ lại dùng biện pháp so sánh “như là đồng là bể/ như là sông là rừng” để nhắc nhớ lại những sự vật của quá khứ, đánh thức tâm hồn con người. Hình ảnh cánh đồng, sông bể và rừng được lặp lại đã nhấn mạnh, khắc sâu vào lòng chủ thể trữ tình những dấu ấn cao quý của quá khứ. Những hình ảnh ấy bất chợt hiện ra trước mắt nhà thơ, quá khứ bất chợ ùa với “đồng” ,”bể”, “sông”, “rừng”, đó là những kỉ niệm đã từng gắn bó với mình, những kỉ niệm trong quá khứ. Ở những câu thơ này, không còn nhẹ nhàng mà nhịp thơ trong câu nhanh dần, hối hả để đánh thức kỉ niệm, đánh thức tình người. Và ở hoàn cảnh ấy, con người mới vỡ lẽ nhận ra sự vô tình của mình đối với ánh trăng kia.

Xem thêm:  Kể sáng tạo truyện Cây bút thần

Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình.

Vầng trăng quá khứ là sự biểu hiện của tình nghĩa ân tình thủy chung, biểu tượng cho sự vẹn nguyên tròn đầy. “Trăng cứ tròn vành vạch”, trăng vẫn đẹp, vẫn nguyên, vẫn chung thủy và mãi chẳng thay lòng, “kể chi người vô tình”. Dù con người có tàn nhẫn, có vô tình quên đi vầng trăng thì ánh trăng ấy vẫn hiền hòa, nhân hậu, bao dung. Đó cũng là nét đẹp cao cả của thiên nhiên,luôn dung thứ cho mọi lỗi lầm của cuộc đời, con người. Ánh trăng kia không hề có chút mảy may tính toán với người, mà nó vẫn luôn giữ nét thanh cao, dung hòa với mọi thứ, hòa vào cuộc sống nhân dân, đất nước dù người ta có vội quên đi và vô tình với trăng. Không một lời oán thán, không trách móc, nhưng “ánh trăng im phăng phắc” như tỏ vẻ không vui, không nói một lời nào. Như thế cũng là một sự nghiêm khắc, nhắc nhở cũng là một sự hụt hẫng, của trách con người trong im lặng, sự tự vấn lòng người để rồi con người phải “giật mình” trong câu cuối. Nhà thơ vội nhớ đến cái vô tình của mình mà quên đi vầng trăng, thế nên, ông mới “giật mình” và thể hiện một sự hối lỗi, tỉnh ngộ sau phút ngỡ ngàng. Cái “giật mình” là cảm giác phản xạ tâm lý của một người biết suy nghĩ và đang đắn đo, nhận ra lỗi sai của mình. Sự bạc bẽo, vô tâm của con người đã được vỡ lẽ. Và thiên nhiên cũng thật nghiêm khắc, lạnh lùng khi chỉ im lặng nhưng cũng thật bao dung, độ lượng, vầng trăng và thiên nhiên luôn trường tồn bất diệt, vĩnh viễn chẳng thay lòng.

Bài thơ “Ánh trăng” đã đi vào lòng người bao thế hệ như một thông điệp, một lời nhắc nhở đối với mỗi người : hãy sống nghĩa tình, thủy chung, đừng bao giờ đánh mất giá trị tinh thần trong quá khứ bởi lẽ, quá khứ chính là nền tảng của cuộc sống hiện tại và mai sau. Là một người có linh hồn, hãy là người sống đúng với lương tâm, luôn nhớ về cội nguồn gốc rễ. Và dù có lỡ lầm đánh mất, hãy cố gắng tìm lại những giá trị đó, đừng để quá muộn. Với thể thơ năm chữ đầy sáng tạo, hồn thơ phóng khoáng, tự nhiên, ngôn từ giàu sức gợi, Nguyễn Duy đã đưa vào lòng người đọc một hồn thơ mang nhiều ý nghĩa cao cả về giá trị nhân đạo, nhân sinh thấm đẫm lòng người.

Bùi Phương Thảo

Post Comment