Giải thích nhan đề bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

Giải thích nhan đề bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

Hướng dẫn

Đề bài: Hãy dựa vào nội dung bài thơ Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên) để giải thích ý nghĩa nhan đề đó của bài thơ. Bình giảng khổ thơ được làm đề từ cho bài thơ.

Tây Bắc ư? có riềng gì Tây Bắc’

Khi lòng ta đã hóa những con tàu

Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu?

Mở bài Giải thích nhan đề bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

Được trở về với nhân dân, với cuộc đời rộng lớn, đó là sứ mệnh thiêng liêng của nền văn học chân chính. Sứ mênh ấy đã trở thành niềm khát vọng, niềm hạnh phúc đối với các nhà thơ lãng mạn đã từng chìm sâu trong cái “tôi” nhỏ bé bế tắc. Để diễn tả niềm khát vong và hạnh phúc ấy, Chế Lan Viên đã sáng tạo nên một bài thơ đặc sắc, độc đáo: Tiếng hát con tàu, một bài thơ tiêu biểu của tập Ánh sáng và phù sa viết năm 1960.

Thân bài Giải thích nhan đề bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

Sự thực thì chưa hề có đường tàu lên Tây Bắc. Con tàu ở đây là biểu tượng cho khát vọng lên đường, đi xa, hướng vào đời sống lớn của đất nước, của nhân dân, đi tới những ước mơ lớn, nguồn cảm hướng lớn của nghệ thuật: “Khi lòng ta đã hóa những con tàu”; “Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi, Ngoài cửa ô tàu đói những vành trăng”; “Đất nước mênh mông đời anh nhỏ hẹp, Tàu gọi anh đi sao chửa ra đi? Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép; Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia”.

Sự thực là hồi ấy (1958-1960) có chủ trương vận động thanh niên lên xây đựng kinh tế miền núi Tây Bắc. Nhưng ở bài thơ này, Tây Bắc không chỉ là Tây Bắc. Đó còn là Tổ quốc bao la, nhân dân vĩ đại, là đời sống cần lao và chiến đấu đầy gian khổ nhưng cũng đầy tình nghĩa của đồng bào trong 10 năm kháng chiến, là một phần máu thịt tâm hồn nhà thơ còn để lại nơi đó với bao kỷ niệm thiết tha: “Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát, Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?, Trên Tây Bắc! ôi mười năm Tây Bắc, Xứ thiêng liêng, rừng núi đã anh hùng, Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất”.

Xem thêm:  Nêu và phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân.

Mạch thơ vận động qua ba đoạn (không kể đoạn thơ đề từ). Hai khổ thơ đầu là lời giục giã, mời gọi của con tàu lên Tây Bắc và cũng là lời thôi thúc của chính tâm hồn nhà thơ ở nơi ấy. Chín khổ thơ tiếp theo là những kỷ niệm thiêng liêng ở Tây Bắc trong cuộc kháng chiến mười năm với sức sống muôn đời của nó: “Ôi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa, Nghìn năm sau còn đủ sức soi đường”. Bốn khổ cuối là cảm hứng lên đường dạt dào sôi nổi hay có thể gọi là khúc hát lên đường.

Bài thơ có nhan đề là Tiếng hát con tàu bởi vì đó là tiếng gọi của Tây Bắc đi xây dựng làm giàu cho Tổ quốc, Và Tây Bắc là chiến trường từng diễn ra những trận đánh quyết liệt giữa ta và Pháp, nổi tiếng nhất là “Điện Biên lừng lẫy địa cầu” – “Điện Biên, một thiên sử vàng”. Tây Bắc cũng là một vùng đất đai phì nhiêu, có nhiều tài nguyên quý hiếm. Hòa bình lập lại vào những năm 1959-1960, chúng ta có phong trào vận đông nhân dân miền xuôi lên xây dựng kinh tế Tây Bắc, làm giàu cho Tổ quốc. Nhiều nghệ sĩ cũng đã có mặt trong đoàn người đó cho ra đời kịp thời những tác phẩm nghệ thuật phản ánh cuộc sống xanh tươi ấy. Huy Cận có bài Cô gái Hưng yên đi mở mang Tây Bắc. Nguyền Khải có Mùa lạc, Nguyễn Tuân có Sông Đà, Bùi Minh Quốc có bài thơ Lên miền Tây làm xôn xao dư luận một thời:

Xe chạy nghiêng nghiêng trèo dốc núi

Lên miền Tây vời vợi nghìn trùng

Ôi miền Tày dưới xuôi sao nghe nói ngại ngùng

Mà lúc ra đi lửa trong lòng vẫn cháy

Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy

Dầu xa xôi gấp mấy cũng lên đường

Sống ở Thủ đỗ mà dạ để mười phương

Nghìn khát vọng chồng chất mơ ước lớn.

Đó cũng là một hiện thực khơi nguồn cảm hứng cho Chế Lan Viên viết Tiếng hát con tàu.

Tuy nhiên bài thơ của Chế Lan Viên không chỉ dừng lại ở đó; mà nội dung ý nghĩa của nó đã vượt khỏi phạm vi một vấn đề thời sự để mở ra những suy tưởng về đất nước đang dựng xây, về nhân dân và nghệ thuật.

Chế Lan Viên là một thi sĩ trước cách mãng đã từng chìm đắm trong cái “tôi” cô đơn bé nhỏ, bế tắc. Vì thế ông muốn làm “một cánh chim thu lạc cuối ngàn” hoặc muốn xin “một vì sao trơ trọi cuối trời xa” để trên đó ngày đêm ông lẩn tránh “Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo”. Nhớ về ngày ấy, ông đã sám hối một cách rất chân thành và xúc động:

Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp

Giấc mơ con đè nát cuộc đời con

Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp

Một mái nhà yến rủ bóng xuống tầm hồn

Vì vậy khi được gặp “ánh sáng của tư tưởng” và “phù sa của cuộc đời”, ông cảm thấy mình như được cứu thoát “Từ thung lũng đau thương đến cánh đồng vui”. Và từ đấy, trong tâm hồn Chế Lan Viên luôn luôn trăn trở, phấn đấu “Muốn phá cô đơn hòa hợp với người”; muốn hòa cái “Tôi” nhỏ bé với cái “Ta” cao rộng, muốn hướng nghệ thuật chân chính về với cuộc đời rộng lớn. Giờ phút bừng sáng ấy đối với Chế Lan Viên có ý nghĩa như một sự giác ngộ chân lý, giác ngộ một lẽ sống lớn. Nếu như giờ phút ấy đã biến tâm hồn Tố Hữu thành “một vườn hoa lá rất đậm hương và rộn tiếng chim”, thì nó đã biến hồn thơ Chế Lan Viên thành con tàu tâm tưởng tràn đầy khát vọng, đang háo hức lên đường và muốn mở hết tốc lực trong hành trình đến với nhân dân, với đất nước.

Xem thêm:  Soạn văn Bài 33: Tự Do - P.Ê-Luy-A

Kết luận bài văn Giải thích nhan đề bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

Như vậy bài thơ có nhan đề Tiếng hát con tàu. Và suốt bài thơ nổi lên một hình tượng chủ đạo: Con tàu lên Tây Bắc. Trên thực tế chưa hề có đường tàu lên Tây Bắc. Ở đây con tàu đã trở thành biểu tượng: Biểu tượng cho khát vọng lên đường, đi xa, trở về cuộc sống rộng lớn của đất nước và nhân dân, trở về những kỷ niệm đẹp đẽ, thắm thiết, trở về với ngọn nguồn của thơ ca chân chính “Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi, Ngoài cửa ô, tàu đói những vành trăng”; “Đất nước mênh mông đời anh nhỏ hẹp”; “Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép”, “Tây Bắc đi! người là mẹ của hồn thơ”. Bởi Tây Bắc không chỉ là Tây Bắc mà còn là Tổ quốc bao la, là cuộc sống rộng lớn của nhân dân trên mọi miền đất nước đang vẫy gọi nhà thơ.

Theo Tacgiatacpham.com